Những con số ấn tượng của Bộ LĐ-TB&XH trong năm 2020

Năm 2020, nền kinh tế của Việt Nam đã đối chọi với những khó khăn, thách thức khắc nghiệt. Bất chấp những chông gai, thử thách đặc biệt là từ đại dịch toàn cầu COVID-19, Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội, dưới sự dẫn dắt của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, chưa từng quên đi nhiệm vụ cao cả vì cuộc sống của những người dân lao động chân chính. 

96 là số đề án xây dựng thể chế của Bộ LĐ-TB&XH

Sáng 6/3, tại Hội nghị xây dựng thể chế năm 2020 thảo luận về những vấn đề then chốt trong lộ trình xây dựng chính sách pháp luật về an sinh xã hội của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội. Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trong phát biểu chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Trong 4 năm qua, về cơ bản, các đơn vị đã thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật đúng tiến độ và chất lượng. Thông qua đó, ngành đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý để vận hành thị trường lao động và hội nhập…”.

Đặc biệt trong năm 2019, công tác xây dựng thể chế được đánh giá là một trong 3 điểm đột phá lớn nhất của ngành LĐ-TB&XH. Theo đó, nhiều kết quả thực hiện đã được lãnh đạo Đảng và Nhà nước đánh giá cao.

“Chủ tịch Quốc hội từng khẳng định, một số vấn đề còn được coi như dấu ấn lịch sử của ngành trong công tác tham mưu với Đảng và Nhà nước. Đơn cử như Bộ Luật Lao động 2012 (sửa đổi) với các nội dung về tuổi nghỉ hưu, tổ chức đại diện của người lao động tại cơ sở…” – Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết.

Chính vì thế, năm 2020, lãnh đạo Bộ LĐ-TB&XH đã xác định khối lượng xây dựng thể chế lên đến 96 đề án, gồm: 1 dự án luật; 1 hồ sơ gia nhập công ước ; 46 nghị định, quyết định, báo cáo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, 23 Thông tư thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng và 25 đề án trong chương trình dự bị của Bộ.

Trong đó có nhiều văn bản pháp luật quan trọng, như: Dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi), dự thảo đề án gia nhập Công ước số 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức, dự án pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi)…

16 là những thay đổi đột phá của Bộ luật Lao động sửa đổi

Ngày đầu tiên của năm 2021 đánh dấu một bước phát triển đáng nhớ của ngành LĐ-TB&XH, khi Bộ luật Lao động sửa đổi chính thức có hiệu lực. Bộ luật ghi dấu án với những thay đổi mang tính chất đột phá, hòa mình cùng sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế nước nhà.

Đây cũng là lần đầu tiên Bộ luật mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ Luật Lao động đối với người làm việc tại khu vực không có quan hệ lao động, những người lao động được tuyển dụng nhưng không được ký hợp đồng lao động bằng văn bản.

Những điểm đáng chú ý khác của Bộ luật Lao động sửa đổi 2021 bao gồm thay đổi đáng kể về tuổi nghỉ hưu, quy định mới về số ngày nghỉ lễ Quốc khánh, xóa bỏ tình trạng lao động thời vụ, tăng quy định số giờ làm thêm trong tháng, cấm doanh nghiệp ép NLĐ dùng lương để mua hàng hóa, dịch vụ…

8 triệu là số người thoát nghèo và cận nghèo

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 đã giúp đem nâng cao thu nhập, cải thiện cả đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, người dân trên địa bàn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn.

Chỉ riêng chính sách thường xuyên hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo, hộ cận nghèo đã là khoảng 25.000 tỷ/năm chi cho hỗ trợ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí, trợ giúp pháp lý, tiền điện…

Thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, cho thấy thu nhập bình quân của người nghèo đã tăng 2,3 lần giai đoạn 2016-2020, hơn 13.000 dự án phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả với trên 2,2 triệu hộ hưởng lợi với tổng kinh phí thực hiện là 8.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết: “Chương trình còn giúp hơn 2,5 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo được dạy nghề, tạo việc làm. Hỗ trợ cho 5.500 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc ở nước ngoài…”.

Tổng số khoảng 18.000 công trình cơ sở hạ tầng được đầu tư, đã đưa vào sử dụng trên 15 nghìn công trình, khoảng 7 nghìn công trình được duy tu bảo dưỡng. Theo tổng hợp từ các địa phương, 32 huyện nghèo và 103 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng khó khăn.

Đối với các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 550 xã hoàn thành Chương trình 135 và 1.286 thôn hoàn thành mục tiêu Chương trình 135. Những thực tế trên chính là cơ sở để các kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo đều đạt và vượt mục tiêu, chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao.

Nếu như năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn tới 58,1%, năm 2015 là 9,88%. Nhưng tới năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới chỉ là 3,75%. Năm 2020, tỷ lệ dự kiến còn 2.75%.

62.000 tỷ và 15,8 triệu là gói gói hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và số người được tiếp cận

Tháng 4/2020,Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Quyết định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

“Sau chưa tới 1 tháng, việc chi trả từ gói 62.000 tỷ đồng đã được thực hiện tại 63 tỉnh, thành với khoảng 15,8 triệu người được phê duyệt. Riêng lao động và hộ kinh doanh là gần 4 triệu người…” – Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho hay.

Trong các nhóm người dân nhận hỗ trợ, đối tượng chính sách được triển khai sớm nhất. Đây là những người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo.

Tổng số được phê duyệt là 11,8 triệu người với kinh phí gần 11.400 tỷ đồng. Tới 20/5, số kinh phí hỗ trợ trực tiếp đã tới trên 6,7 triệu người, đạt 59 % số đối tượng được phê duyệt.

Báo cáo sơ bộ cho thấy, 6 tỉnh và thành phố đã thực hiện hỗ trợ các đối tượng mở rộng so với Nghị quyết 42/NQ-CP và Quyết định 15/2020/QĐ-TTg, gồm: Quảng Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng. Tổng số đối tượng hỗ trợ thêm 17.800 người với kinh phí thực hiện khoảng 19,1 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, dự kiến, số kinh phí hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 sẽ không vượt chi, nhất là ngân sách Trung ương, trong số liệu tổng kinh phí đã được Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

T.H.