Nghĩ gì từ câu chuyện của một người Hàn Quốc sang Việt Nam làm việc

Tối thứ Bảy, mưa tầm tã, tôi ngồi đọc sách tại một quán cà phê vắng vẻ, trong một con hẻm nhỏ ở Hải Phòng. Lấy máy tính, định viết thứ gì đó, chợt thấy một đôi nam nữ bước vào quán tránh mưa. Chỉ có ba người trên căn gác nhỏ, vì vậy dù không muốn, tôi cũng nghe được đôi nam nữ nói chuyện.

Cô gái là người Việt Nam, còn rất trẻ, vừa mới tốt nghiệp Đại học Hàng Hải và làm việc cho trung tâm Anh ngữ Apollo tại Hải Phòng. Chàng trai là người Hàn Quốc, hơn 30 tuổi, tới Việt Nam, làm dự án cho một công ty Hàn Quốc tại khu công nghiệp ở Hải Phòng. Hai người họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Thực lòng, thứ tiếng Anh của anh chàng người Hàn rất khó nghe, song lại có nội hàm (cả người Nhật, Đài Loan, vv, cũng gặp vấn đề như vậy). Cô gái phát âm tiếng Anh tốt hơn rất nhiều, có thể do đặc thù công việc, và cô thường cố gắng bắt chước những cử chỉ, hành động biểu cảm (body language) như trong phim Anh Mỹ, tuy nhiên ý tưởng (idea) trong những điều mà cô truyền đạt lại tỏ ra khá nghèo nàn.   Hai con người, đại diện cho 2 nền văn hóa Á Châu chia sẻ chuyện của bản thân và những trải nghiệm cuộc sống, song dường như những gì mà họ trao đổi không mấy làm ăn nhập. Trong lúc anh chàng Hàn Quốc tỏ thích thú với Việt Nam qua những chủ đề về kinh tế, văn hóa, chính trị, lịch sử … thì cô gái lại không có nhiều điều để đem ra luận bàn. Qua tâm sự, cô gái chỉ mong có được một cuộc sống tốt, kiếm đủ tiền để đi du lịch, và nếu có thể, cô rất muốn ra nước ngoài sinh sống vì cảm thấy cuộc sống, môi trường hay con người tại Việt Nam không hợp phù hợp và điều đó khiến cô không mấy vui.   Một điểm đáng chú ý trong câu chuyện giữa hai người là khi anh chàng người Hàn nhận xét: giới trẻ Việt Nam mà anh ta tiếp xúc, có nhiều người yêu thích văn hóa Hàn đến kỳ lạ, họ có thể thuộc lòng tên những thần tượng và ban nhạc K-POP mà ngay cả bản thân anh ta cũng không biết. Anh ta nói mình và nhiều người Hàn Quốc, những người có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên phải chịu rất nhiều áp lực, làm việc quần quật như những cỗ máy. Những chủ đề mà họ quan tâm là tin tức kinh tế, thị trường chứng khoán, Bắc Triều Tiên hay những biến động chính trị – những thứ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ và gia đình họ. Bởi vậy, anh ta không hiểu vì sao những người trẻ Việt Nam lại tỏ ra thờ ơ và ít quan tâm tới những vấn đề liên quan tới chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử, vv. đến vậy. Anh ta thậm chí còn kể cho cô gái nghe rằng: “Cách đây 60 năm, sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, bán đảo Triều Tiên bị chia cắt hai miền, cũng y như Việt Nam, và Hàn Quốc khi đó nghèo lắm, thậm chí còn nghèo hơn Việt Nam rất nhiều. Khi đó, chính phủ Hàn Quốc đã gửi lính sang tham chiến tại Việt Nam theo yêu cầu của Hoa Kỳ để đổi lấy viện trợ và được hậu thuẫn cho phát triển. Khi đó, một vài công ty Hàn Quốc, mà sau này rất thành công như Huyndai đã trúng thầu được những dự án có giá trị tại Việt Nam và mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho Hàn Quốc. Chính chiến tranh Việt Nam đã đóng vai trò không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc.” Cô gái tỏ ra ngạc nhiên trước những thông tin đó, cô thích phim Hậu Duệ Mặt Trời, song không hề biết Park Chung Hee – người đã gửi quân sang Việt Nam là ai.

Phim Hậu duệ Mặt Trời từng gây sốt tại Việt Nam
Quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tôi đang cầm trên tay cuốn Kỷ nguyên Park Chung Hee của hai tác giả Kim Byung-kook (giáo sư đại học Korea) và Exra F. Vogel (giáo sư danh dự đại học Harvard) do Alpha Book dịch và phát hành. Trong sách nêu rất rõ: sự sa lầy nặng nề của Hàn Quốc ở miền Nam Việt Nam đã làm thay đổi nhanh chóng vận may chính trị và kinh tế của Hàn Quốc, khiến Hàn Quốc trở thành một phần trọng tâm trong chính sách của Mỹ ở Đông Á mặc dù Nhật Bản mới là đồng minh quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong khu vực này.
Sách Kỷ nguyên Park Chung Hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn Quốc. 
Việt Nam và Triều Tiên, hai vùng lãnh thổ cùng chung cảnh ngộ bị chia cắt sau Chiến tranh Thế giới 2, song định mệnh lại khác nhau. Âu cũng là sự trớ trêu của số phận và sự nghiệt ngã của lịch sử. Bán đảo Triều Tiên mặc dù vẫn đang còn bị chia cắt, song Hàn Quốc lại đạt được kỳ tích kinh tế, trở thành một nước rất phát triển với nhiều tiêu chí (index) đứng đầu trong khối OECD (câu lạc bộ của những nước giàu); Việt Nam dù thống nhất được đất nước, song vẫn đang phải đấu tranh để phát triển sau sau nhiều thập kỷ chiến tranh và đói kém với những vết thương vẫn chưa lành – nói như Giáo sư vật lý người Pháp Pierre Darriulat trong bài diễn từ nhận giải thưởng “Vì sự nghiệp Văn hoá và Giáo dục” (2016) của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh cùng với GS. Trịnh Xuân Thuận – nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng tại NASA.
Giáo sư Pierre Darriulat, một người Pháp rất yêu Việt Nam tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh (2016). Ông nói: các đại học của Việt Nam đang dạy nhiều thứ của 60 năm về trước. 
  Không chỉ Hàn Quốc, trong thập niên 1970, một số quốc gia và vùng lãnh thổ Viễn Đông như Đài Loan, Hongkong, Singapore, hay Thái Lan … cũng được hưởng lợi rất nhiều từ cuộc chiến ở Việt Nam, nhờ vậy họ đã phát triển bỏ xa chúng ta hàng chục năm. Cố thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã từng phát biểu: “Cuộc chiến ở Việt Nam mang lại lợi ích cho cả châu Á” Quả đúng như vậy, nếu không nhờ chế lọc xăng dầu và cung cấp dịch vụ hậu cần cho quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam, thì chính quyền của ông Lý Quang Diệu dẫu có tài giỏi đến mấy cũng chưa chắc đã đạt được kỳ tích kinh tế như vậy, biến Singapore từ một làng chài nhỏ bé, trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng nhất thế giới.
Lý Quang Diệu từng nói Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về tiềm năng, song khó phát triển do sự trì trệ bảo thủ, đặc biệt về ý thức hệ. Tuy nhiên, ông nhận định: chính cuộc chiến ở Việt Nam đã đem lại cơ hội cho Singapore phát triển.
  Khi viết những dòng này, người viết không có ý hoài cổ hay nuối tiếc dĩ vãng, mà là để “Ôn cố tri tân”. Chỉ có học và hiểu biết lịch sử một cách sâu sắc, chúng ta mới có khả năng để rút ra những bài học có giá trị cho tương lai.   Sau hơn 3 thập niên tăng trưởng thần kỳ, những con hổ châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong và Singapore đã đạt mức thu nhập đầu người ngang bằng, thậm chí vượt qua nhiều nước châu Âu; hiện thị trường của họ đã trở nên bão hòa, tốc độ tăng trưởng cao (6-7%/năm) là điều rất khó có thể xảy ra. Mức lương và chi phí sản xuất leo thang, đi kèm với những quy định ngặt nghèo về quyền lợi người lao động ở những nơi này khiến nhiều chủ công ty, xí nghiệp phải di chuyển đầu tư sang Trung Quốc và các quốc gia kém phát triển hơn ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nhiều người Đài Loan và Hàn Quốc sang Việt Nam làm việc cho biết, tại xứ họ, những người làm công ăn lương gặp nhiều khó khăn và chịu rất nhiều sức ép trong công việc, trong khi môi trường ở Việt Nam mang lại cho họ sự thoải mái, như thu nhập cao và ít áp lực hơn.   Hiện nay Hàn Quốc đang là nhà đầu tư nước ngoài số 1 tại Việt Nam, với tổng vốn FDI đăng ký đạt hơn 54 tỷ USD, vượt qua cả Nhật Bản (42 tỷ USD). Chỉ riêng hai nhà máy của Samsung tại Bắc Ninh và Thái Nguyên đã đạt giá trị xuất khẩu lên tới 36 tỷ USD/năm, song con số thuế mà họ đóng lại hết sức khiêm tốn (chỉ khoảng 2000 tỷ VNĐ). Nhiều chuyên gia kinh tế, trong đó có TS Lê Đăng Doanh, đã nhiều lần cảnh báo, những nhà đầu tư nước ngoài thường coi Việt Nam là thiên đường “tránh thuế” giúp họ kiếm bộn lợi nhuận qua những thủ thuật “chuyển giá” và khai báo lỗ hết sức tinh vi. Lý giải cho hiện tượng này, một phần cũng là vì chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của chúng ta đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi và ưu đãi quá mức cho các nhà đầu tư nước ngoài (như cho thuê đất ưu đãi trong dài hạn hay miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong nhiều năm) – chính điều này lại gián tiếp góp phần bóp nghẹt khối doanh nghiệp tư nhân trong nước, vốn chưa đủ lớn mạnh và tiềm lực. Việt Nam đang kêu gọi thoát Trung – trong đó có thoát khỏi lệ thuộc kinh tế với Trung Quốc, song chưa kịp thoát Trung thì chúng ta có vẻ đã sa vào một cái bẫy (trap) khác mang tên Hàn Quốc.
Samsung và những doanh nghiệp FDI Hàn Quốc đang được nhận quá nhiều ưu đãi từ chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
  Giới trẻ Hàn Quốc (hay Đài Loan), thường được những giáo sư của họ, từ trên ghế của giảng đường đại học dạy rằng: “Các bạn hãy sang những quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam để đầu tư, làm ăn vì ở đó đang tồn tại rất nhiều tiềm năng và cơ hội cho các bạn”. Trong lúc đó, giới trẻ của chúng ta lại đang trở nên bơ vơ, loay hoay và không được định hướng một cách đúng đắn. Một đất nước đang trong cơ cấu dân số vàng, thống kê chỉ rõ độ tuổi trung bình là 24 và 65% dân số ở tuổi dưới 35, nhưng lại ít chú trọng chăm sóc giới trẻ nhiều tiềm năng đó qua những hoạt động giáo dục và phát triển tinh thần. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, lý tưởng thanh niên đang bị lung lay không có chỗ dựa. Người ta có thể vội vàng nhận xét nhóm người tuổi trẻ hôm nay chỉ sống ồn ào, vội vã, theo đuổi vật chất, và gần như vô cảm, nhưng thật sự họ là những người cô đơn nhất.   Hiện trạng đất nước hôm nay không tạo được cảm hứng hay nuôi dưỡng các ý tưởng phục vụ cho thế hệ trẻ. Tương lai với họ trở nên thiếu chắc chắn, bởi những giá trị của dân chủ, công bằng và nhân ái cần thiết cho một xã hội hiện đại đều thiếu vắng. Ngay cả những tiến bộ kinh tế, điểm sáng của ba mươi năm Đổi mới, cũng đang trở thành mong manh tạm bợ do sự bế tắc trong chính sách, bởi sự chi phối của “lợi ích nhóm” đang lũng đoạn và làm nghèo đất nước.   Thế hệ trẻ không thể không biết và thờ ơ với viễn cản đó. Thiếu niềm tin, họ đang phản ứng lại bằng sự chán chường với cuộc sống hiện tại, dồn nỗi đam mê của đời sống vào những dòng xe đắt tiền, những chiếc điện thoại thông minh thời thượng, những trào lưu mang tính thị trường như K- POP hay Lạc Trôi. Thậm chí, họ còn hay biểu lộ khí thế tuổi trẻ đơn giản bằng những cuộc đua xe tốc độ, hay khá hơn, diễn tả lòng yêu nước bằng những màn cổ vũ chiến thắng bóng đá cuồng nhiệt trong những trận ‘thư hùng’ với các đội quốc gia ASEAN – vùng trũng của bóng đá thế giới.   Trước thực trạng đó, nhiều chuyên gia và cả những nhà nắm luật trên nghị trường đã bàn tới các giải pháp kinh tế xã hội mang tính kỹ thuật ngắn hạn – như khái niệm về nhà nước kiến tạo (developmental state) bởi chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Nhưng trong con mắt của người trăn trở với những vấn đề xã hội, sẽ rất khó để có được một “liều thuốc hiệu quả tức thì”, hay mọi sự tô vẽ tự sướng chỉ là ảo tưởng. Điều quan trọng hơn cả là cần có những thay đổi ở cấp độ thể chế và những chính sách kinh tế cơ bản dài hạn, tái lập các giá trị nhân văn căn bản qua giáo dục và định hướng cho tuổi trẻ.   Hải Đăng