Âm mưu gán tội cho Đại tướng Lê Đức Anh trong trận Gạc Ma – Không từ thủ đoạn?

Sau khi Đại tướng Lê Đức Anh từ trần, nhiều kẻ chống phá chế độ đã đăng tải lên mạng xã hội những bài viết xuyên tạc, bịa đặt, xúc phạm nặng nề đến vong linh ông.

Những dữ liệu giả tạo, đơm đặt liên quan đến trận chiến Gạc Ma – sản phẩm của những kẻ chống phá lại một lần nữa dựng lên cho dù có các chứng nhân đã lên tiếng bác bỏ hoàn toàn những lời bịa đặt. Điều đó chứng tỏ việc “chống Cộng sản không từ thủ đoạn” đang hằng ngày hằng giờ được các thế lực tiến hành.

Thông tin xuyên tạc Đại tướng Lê Đức Anh là người ra lệnh “cấm nổ súng” dẫn đến sự hi sinh của 64 chiến sĩ trên đảo Gạc Ma năm 1988 được các thế lực chống đối sử dụng như một vũ khí đánh vào uy tín của Đại tướng Lê Đức Anh cũng như ư uy tín về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Mặc dù nhân chứng trực tiếp tham gia trận Gạc Ma là trung sĩ Lê Hữu Thảo cũng như nhiều người gián tiếp tham gia trận chiến đã khẳng định: “không có lệnh cấm nổ súng” trong trận chiến. Vì nếu như có lệnh “cấm nổ súng” thì giải thích thế nào về số lượng 24 lính Trung Quốc bị thương vong trong trận Gạc Ma.

Thực tế là, để phòng xung đột quân sự nhỏ trên khu vực Trường Sa có thể bùng nổ thành một cuộc chiến tranh lớn trên biển, Tư lệnh quân chủng Hải quân là đô đốc Giáp Văn Cương ra lệnh: “hết sức kiềm chế, tự vệ là chính, không nổ súng trước, nhưng kiên quyết táo bạo, với phương châm: có người, có đảo; còn người, còn đảo”.

Như vậy, mệnh lệnh “không nổ súng trước” đã được ban hành để tránh khiêu khích đối phương, làm bùng nổ các xung đột gây bất lợi lâu dài.

Trong bối cảnh lúc đó, Việt Nam vẫn đang có xung đột ở biên giới phía Bắc và tại Campuchia. Lúc này, lực lượng của chúng ta rất mỏng, phải bố trí quân đội ở cả biên giới phía bắc, Campuchia và biển đảo. Có thể nói, đây là giai đoạn mà Tổ quốc gặp khó khăn nhất. Ngoài việc biên giới hai đầu không yên ổn, Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.

Nếu manh động “nổ súng trước” mà để xảy ra một cuộc chiến lớn trên biển thì hậu quả rất khôn lường. Do đó, kiềm chế để “không nổ súng trước”, không để cho đối phương tạo cớ gây xung đột lớn là mệnh lệnh đúng đắn. Lịch sử đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh do một bên tạo cớ để gây ra như chiến tranh thế giới lần thứ 2, sự kiện vịnh Bắc bộ 1964 do Mỹ tạo cớ để ném bom phá hoại miền Bắc.

Nhưng tất nhiên, trong chiến tranh thì không thể có lệnh “cấm nổ súng”, dù ở bất cứ mặt trận nào. Bộ đội đã trấn giữ Trường Sa phải nổ súng khi bị tấn công để bảo vệ đảo.

Nhưng tất nhiên, trong chiến tranh thì không thể có lệnh “cấm nổ súng”, dù ở bất cứ mặt trận nào. Bộ đội đã trấn giữ Trường Sa phải nổ súng khi bị tấn công để bảo vệ đảo.

Vì thế, chúng ta “không nổ súng trước” nhưng phải nổ súng. Khi đã được giao súng tức là được bắn, đấy là nguyên tắc, chỉ có điều phải xác định bắn lúc nào. Nổ súng lúc nào do người chỉ huy tại chỗ quyết định, không phải cấp cao hơn, càng không phải lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Thực tế trong trận Gạc Ma, bộ đội ta đã nổ súng đáp trả và đối phương bị thương vong 24 người.

“Không nổ súng trước không có nghĩa là không được nổ súng chống lại khi bị tấn công”. Không một đô đốc hải quân nào ra lệnh cho bộ đội của mình làm thế. Không một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra lệnh cho quân đội của mình như thế. Bởi nếu như thế có nghĩa là ta đầu hàng vô điều kiện.

Quân đội Việt Nam đã đối đầu với hai kẻ thù mạnh là Pháp và Mỹ và giành chiến thắng. Quân đội Việt Nam cũng đã đối đầu với Trung Quốc ở phía Bắc và quân Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam. Cả hai cuộc chiến tranh biên giới đều không phải do Việt Nam bắt đầu. Nhưng Việt Nam cũng không ngại ngần đáp trả. Thế thì không có lý do gì, chúng ta lại sợ hãi nổ súng nếu bị tấn công ở Trường Sa. Xin nhắc lại, nổ súng lúc nào do người chỉ huy tại chỗ quyết định, không phải cấp cao hơn, càng không phải lãnh đạo Bộ Quốc phòng.

Không biết có nước nào khi có chiến tranh mà lãnh đạo Bộ Quốc phòng chỉ huy từng trận đánh cấp đại đội không? Tôi chắc là không. Đơn vị của một ông sỹ quan nào đó hồi đánh Mỹ chắc chắn không bao giờ nhận được lệnh trực tiếp từ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Không có cơ chế đó và nếu có đi chăng nữa thì phương tiện thông tin thời kỳ đó không thể gọi trong vòng mấy chục giây đến cấp trung đoàn, cấp tiểu đoàn được, càng không tới tàu hoặc trên đảo xa xôi.

Hơn nữa, lúc đó quân đội hàng triệu người của ta đóng ở biên giới đang có chiến tranh và Campuchia, không có lãnh đạo Bộ Quốc phòng nào ra lệnh cấm nổ súng cho toàn quân, càng vô lý nếu ông có thể ra lệnh và kiểm soát việc nổ súng của từng đơn vị từ cấp đại đội.

Trong xung đột Colin, Len Đao và Gạc Ma, Việt Nam đóng giữ 2 đảo là Colin và Len Đao, Trung Quốc đóng giữ 1 đảo Gạc Ma. Từ năm 1987, Việt Nam kiểm soát thêm 14 đảo, Trung Quốc đóng giữ 7 đảo.

Bằng cách đóng quân trên 14 đảo mới, chúng ta thực tế đã mở rộng kiểm soát sang phía đông. Đóng quân thực tế khác hẳn với việc tuyên bố chủ quyền nhưng không đóng giữ. Khi đã đóng quân, Việt Nam đã không để mất một tấc đất nào.

Có những người rất muốn cho rằng Việt Nam thất bại trong vấn đề Trường Sa. Thực tế là trái ngược với những điều họ nghĩ: Việt Nam mở rộng kiểm soát lãnh thổ, khai thác dầu khí, xây dựng các nhà giàn, chúng ta đã làm được nhờ có tầm nhìn chiến lược, cách làm khôn khéo và sáng tạo. Đó là những kỳ tích. Không một nước nào khác làm được điều này, là chiến công này là của quân đội và hải quân Việt Nam./.

 

Nhất Phương