Mỹ đứng cùng chiến tuyến với Việt Nam xua đuổi tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trên Biển Đông

Mỹ gần đây tăng cường hoạt động của lực lượng cảnh sát biển ở biển Đông nhằm “thực thi pháp luật và nâng cao năng lực thực thi hoạt động nghề cá”.

Hãng tin Bloomberg ngày 11-6 dẫn lời Tư lệnh Cảnh sát biển khu vực Thái Bình Dương của Mỹ, Phó Đô đốc Linda Fagan, cho biết việc Cảnh sát biển Mỹ tăng cường hiện diện ở biển Đông sẽ giúp thực thi chủ quy.ền của các quốc gia đối tác dọc vùng biển này.

Bà Fagan xác nhận các tàu Cảnh sát biển Mỹ bao gồm Bertholf và Stratton đã được triển khai để “thực thi pháp luật và nâng cao năng lực thực thi hoạt động nghề cá”. Đồng thời, họ đang theo dõi lực lượng dân quân và một số hoạt động của tàu Trung Quốc.

Trước đó, ngày 10-6, Cảnh sát biển Philippines phát hiện một tàu chiến và các tàu bán quân sự của Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough.

Hồi tháng trước, Cảnh sát biển Mỹ cũng tổ chức một cuộc tập trận chung với 2 tàu bảo vệ bờ biển Philippines tại khu vực do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Mỹ gần đây tăng cường hoạt động của lực lượng cảnh sát biển ở biển Đông. Ảnh: Reuters

Đây là lần đầu tiên Cảnh sát biển Mỹ tăng cường hiện diện ở biển Đông trong vòng 7 năm qua. Bà Fagan lưu ý hoạt động này phù hợp với luật pháp quốc tế và “nhất quán” trong những thập kỷ mà họ tuần tra khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

“Cảnh sát biển Mỹ hoạt động song song với Lực lượng Vũ trang Mỹ nhưng cũng thực thi luật pháp Mỹ và quốc tế. Mỹ có thể giúp các nước đang gặp khó khăn bằng cách gửi cố vấn để đào tạo lực lượng tuần tra bờ biển địa phương” – bà Fagan cho biết và nói thêm: “Chúng tôi rất quan tâm đến việc tham gia với các quốc gia đối tác, những người đang đấu tranh để thực thi EEZ (Vùng đặc quyền kinh tế) của họ”.

Gần đây nhất, vào tháng 5, Đô đốc Clayton Doss, phát ngôn viên Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, xác nhận tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Preble đã tiến hành nhiệm vụ thực thi quyền tự do hàng hải ở biển Đông.

Theo đó, con tàu đã đến gần bãi cạn Scarborough trong phạm vi 12 hải lý để thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và bảo vệ quyền đi lại ở các tuyến đường thủy theo luật pháp quốc tế.

Cảnh sát biển Mỹ cũng tổ chức một cuộc tập trận chung với 2 tàu bảo vệ bờ biển Philippines tại khu vực do Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Có thể thấy, từ khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền, thì 2 năm trong nhiệm kỳ đầu tiên, Mỹ đã có những động thái răn đe trở lại, khi 13 nghị sĩ Mỹ trình dự luật trừng phạt Bắc Kinh quân sự hóa Biển Đông. Theo đó, đạo luật sẽ cho phép Mỹ đóng băng thậm chí tịch thu tài sản và thu hồi thị thực của các cá nhân tham gia vào các chính sách đe dọa hòa bình, an ninh khu vực. Đạo luật này không chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân có liên quan, mà bao trùm lên cả Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Việt Nam, quốc gia va chạm chủ quyền trực tiếp với Bắc Kinh cũng bắt đầu trỗi dậy, ít nhất trong ngôn ngữ ngoại giao, khi lên tiếng phản đối việc xây dựng 10 đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa, cũng như “ủng hộ quyền tự do hàng hải” ở Biển Đông khi hai tàu chiến Mỹ áp sát 3 đảo ở Hoàng Sa. Đặc biệt, riêng trong tháng 4.2019, đã tố cáo Trung Quốc vi phạm chủ quyền khi lắp đặt thiết bị làm nhiễu sóng tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó, vào năm 2018, Hà Nội đã đưa ra những yêu sách cứng rắn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Asean và Bắc Kinh, Reuters đưa tin ngăn chặn Trung Quốc thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên khu vực Biển Đông.

Nhìn vào những động thái của hai nước Việt – Mỹ vào năm 2018 và nửa năm 2019, có thể nhận thấy sự quyết đoán của cả hai quốc gia liên quan đến vấn đề Biển Đông. Mặc dù, với Mỹ là “tự do hàng hải”, với Việt Nam là “chủ quyền quốc gia”, nhưng đích đến của cả hai nước là phản ứng lại với những gì mà Trung Quốc đã và đang đe dọa tại khu vực, nhất là xu hướng “quân sự hóa” vùng Biển Đông.

Mới đây nhất, trong một ý kiến trên tờ Bưu Điện Hoa Nam, ông Lê Hồng Hiệp đã nhận định rằng, Việt Nam đang thúc đẩy khối ASEAN hình thành một COC cho Biển Đông. Và tất nhiên, hiệp ước này sẽ mang tính ràng buộc, khả năng ngăn chặn, và thiết lập một quy tắc mang tính chế tài hơn cho khu vực Biển Đông đầy sóng gió.

Không còn những phản đối mang tính “ước lệ”, Việt Nam và Mỹ đi vào trận chiến với sự chế tài nhiều hơn, cần thiết hơn. Và chính điều này, đã tạo ít nhiều “cảm hứng” cho các quốc gia còn lại trong khu vực.

“Biển Đông” không phải là trò chơi của Bắc Kinh, sự cứng rắn của Hà Nội đem lại lợi thế của Washington và ngược lại. Tự do hàng hải hay bảo vệ chủ quyền giờ đây đứng cùng một chiến tuyến.

Xuân Lan (TH)