Chiến lược lâu dài giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền trên biển Đông

Việt Nam cần trau dồi, học hỏi nhiều hơn nữa cho việc trang bị kiến thức tư duy biển. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ liên quan đến biển khiến các nước nhỏ như Việt Nam sẽ luôn ở thế yếu hơn và đi sau, bởi thiếu năng lực và nguồn lực để đầu tư nghiên cứu và triển khai các công nghệ hiện đại, không thể bắt kịp xu hướng khoa học công nghệ của thế giới.

Điều này đòi hỏi chiến lược biển mới của Việt Nam cần thay đổi tư duy, chú trọng vào việc nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến biển, do khoa học công nghệ sẽ không chỉ liên quan đến gia tăng nguồn lợi kinh tế biển mà còn liên quan đến đảm bảo an ninh, quốc phòng nhằm mục đích lớn bảo vệ vùng lãnh thổ cho đất nước.

Bên cạnh đó, việc nguồn tài nguyên biển có nguy cơ cạn kiệt, môi trường ô nhiễm và các vấn đề an ninh phi truyền thống là một điểm đáng lưu tâm. Thực tế cho thấy việc thúc đẩy các quốc gia thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế về hợp tác quản lý nghề cá và môi trường biển ngày càng được quan tâm và đẩy mạnh.

Tinh thần gợi mở xây dựng nền tảng vững chắc cũng như tiếp thu cho tư duy biển của Việt Nam trong thời gian hiện tại và sắp tới là vô cùng cấp thiết.

Việc trình Trung ương xem xét, ban hành nghị quyết mới về Chiến lược kinh tế biển Việt Nam là hết sức quan trọng và cần thiết, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định như vậy tại phiên khai mạc Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa 12 (Hội nghị Trung Ương 8) tháng 10/2018 năm vừa qua.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước còn khẳng định tầm quan trọng của biển, đảo và đây là vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan đến phát triển kinh tế biển gắn với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển.

“Việc trình Trung Ương xem xét, ban hành nghị quyết mới về Chiến lược kinh tế biển Việt Nam là hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ xuất phát từ thực tế Nghị quyết số 09 giới hạn thời gian đến năm 2020 mà còn do nhiều lý do khách quan, chủ quan khác. Trong đó có tình hình quốc tế, khu vực và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi đòi hỏi phải có sự bổ sung, phát triển về quan điểm và điều chỉnh về mục tiêu cụ thể, định hướng phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế biển…”, Tổng bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Trong bối cảnh quốc tế và các xu thế mới, tư duy về biển của Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận để đảm bảo thực hiện thành công cùng lúc nhiều nhiệm vụ cơ bản là bảo đảm an ninh, bảo vệ chủ quyền và các lợi ích trên biển, đồng thời phát triển kinh tế biển bền vững dựa trên trách nhiệm bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên biển.

Trước hết, cần có sự hài hoà và cân đối giữa các nhiệm vụ duy trì hoà bình, ổn định khu vực, bảo đảm an ninh và chủ quyền, khai thác và phát triển kinh tế biển, đồng thời xây dựng ý thức bảo vệ môi trường và nguồn lợi trên biển, tuân thủ theo các quy định của luật pháp quốc tế về sử dụng, khai thác và quản lý biển.

Trong quan hệ đối ngoại, tư duy biển của Việt Nam trong giai đoạn mới cần quan tâm đẩy mạnh đến các vấn đề pháp lý quốc tế và truyền thông linh hoạt hơn nữa. Đây sẽ là những lĩnh vực quan trọng chủ chốt giúp thực hiện các mục tiêu lâu dài của Việt Nam.

Hợp tác quốc tế liên quan đến biển không nên chỉ gói gọn trong các lĩnh vực chính trị, an ninh – quốc phòng hay bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai như hiện nay mà còn cần mở rộng sang hợp tác phát triển kinh tế biển, nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ biển, lĩnh vực quản lý, quản trị biển, và văn hoá – xã hội. Điều này cũng cho thấy cần nhấn mạnh đến tính kết nối cũng như phân vai rõ ràng của các lĩnh vực khác nhau trong kế hoạch phát triển biển mới để đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả.

Ngoài ra, việc điều chỉnh tư duy về không gian biển của Việt Nam không chỉ giới hạn ở Biển Đông. Điều này một mặt giúp Việt Nam tham gia định hình các cơ chế biển và đại dương rộng lớn hơn nhưng phù hợp với lợi ích phát triển lâu dài của Việt Nam.

Mặt khác, việc điều chỉnh tư duy này cũng giúp tạo thế đan xen lợi ích với các nước và tìm kiếm những bài học kinh nghiệm về quản lý biển ở những khu vực khác để áp dụng cho Biển Đông.

Song song đó đề cao Dân chủ hóa tranh chấp, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực nói chung, kể cả Trung Quốc về hành động của 2 quốc gia Guatemala và Belize trong việc Dân chủ hoá tranh chấp trong thời gian vừa qua. Hai nước này đã tổ chức trưng cầu dân ý về việc đưa tranh chấp phân định biển tồn tại trăm năm giữa hai nước ra trước Toà án Công lý quốc tế. Guatemala đã chính thức thông báo với Toà kết quả trưng cầu dân ý và Thỏa thuận đặc biệt với Belize vào ngày 22/8/2018. Belize cũng thực hiện bước đi tương tự vào ngày 7/6/2019.

Hai thông báo này đã tạo thẩm quyền cho Toà xem xét vụ viêc. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân của hai quốc gia tranh chấp đã thể hiện sự tin tưởng của mình với sự công tâm của Toà án giải quyết tranh chấp biển và lãnh thổ trên cơ sở luật quốc tế.

Nhân dân các nước xung quanh Biển Đông cũng có thể thể hiện sự tin tưởng của mình thông qua hình thức trưng cầu dân ý đưa vụ tranh chấp Biển Đông ra trước Toà.

Đó là một trong những cách giải quyết văn minh, phù hợp luật quốc tế và tránh cho các chính phủ sự lo ngại trước các tác động của chủ nghĩa yêu nước dân tuý.

Một trường hợp điển hình nhưng mang nhiều ý nghĩa, hòa bình – công bằng – văn minh đáng để chúng ta suy ngẫm và học hỏi noi theo. Việt Nam cần có bước chuyển mình đúng thời điểm để thấy rõ được giá trị cốt lõi và hiệu quả của việc thay đổi tư duy Biển.

Việt Nam muốn gặt hái những thành công lớn từ biển nói chung và Biển Đông nói riêng, cần phải biết thay đổi theo chiều hướng tốt bằng những hành động nhỏ, thiết thực và ý nghĩa nhất.

(Theo Tạp chí Bút Danh)